HANOI DAEWOO HOTEL
Posted in Khác
Đêm Hỏa Châu
Truyện ngắn: “Đêm hỏa châu”
Nguyễn Hiệp
Đêm hỏa châu. Bầu trời tím đỏ rạch roẹt ngoài cửa sổ. Đụng độ. Đánh lớn ngay trong khu dân cư. Tiếng đề-pa đanh gọn, lạnh ngắt của mấy khẩu pháo nghe rợn tóc gáy, nổi da gà, rồi sau đó là những tiếng uỳnh uỳnh rêm trời rêm đất. Tiếng súng ì đùng, ì đùng kéo từng tràng dài rộ lên khắp làng trên xóm dưới. Tiếng kèn đồng xung phong bên kia Động Trắng lanh lảnh: ù… u.u.u… ù u… ú… u.u.u… Mẹ bế thốc Sa, trườn xuống hầm dưới bộ ván giữa nhà. Sa ngủ gà ngủ gật trên tay mẹ. Trố…ốc. Một tiếng đề-pa rất gần làm Sa choàng dậy. Tiếng lựu đạn nổ chát chúa ngay sau nhà, hình như đâu chỗ cây khế ngọt. Mẹ vặn nhỏ ngọn đèn hột vịt để sẵn trong góc hầm rồi ôm chặt Sa hơn. Tiếng nổ ngay bên vách nhà, từng loạt dài đinh tai. Tiếng chân chạy lịch bịch, lụi hụi ngay bên ngoài vách ván. Mẹ ra hiệu cho Sa bịt hai tai và mẹ đưa ngón tay lên miệng, gật gật đầu. Sa gật lại, tim nhảy múa trong lồng ngực, tim mẹ cũng thình thịch, Sa nghe rõ từng nhịp. Tất cả chợt im ắng. Sự đề phòng căng kéo trong ánh mắt, trong hơi thở thật khẽ của hai mẹ con. Sa líu ríu mắt, ngả đầu vào tay mẹ. Được mẹ vỗ vỗ nhè nhẹ vào lưng, Sa vẫn chưa hết sợ nhưng mắt đã díp lại, Sa mang nỗi sợ hãi từ từ vào trong giấc ngủ. Chợt ánh lửa chói lòa, tiếng rủng roảng ầm ầm, cái gì đó đã đổ sập khắp nơi. Mẹ thay đổi tư thế che chắn cho Sa, đôi mắt vẫn nhìn Sa với bao yêu thương trìu mến. Sa dụi mắt lia lịa, tâm trí bị níu tới một góc hầm bởi tiếng của chú dế cơm đang núp đâu đó trong kẽ kẹt bao cát, chắc là bị động mạnh nên thức giấc gáy ki ri ki ri. Sa bắt đầu đưa mắt quanh quất tìm kiếm. Ki ri ki ri… Tiếng gáy của con dế thách thức, Sa xoay đầu, soi mắt vào cái kẹt nhỏ giữa hai bao cát xếp chồng nhau. Ki ri ki ri…i….i.i.i… Sa tức mình vì cái âm thanh âm âm như một bí mật không thể khám phá đó nhưng Sa chợt khám phá ra thứ khác, một giọt nước sền sệt đỏ sậm nong nóng, hăng hăng vừa rơi xuống tay mình. Sa quệt tay chùi nhanh, một chút cảm giác lợm lợm khó chịu thoáng qua người. Lại một giọt nữa. Máu! Sa nhìn ngược lên đôi mắt của mẹ, vẫn trìu mến, vẫn tràn đầy yêu thương, lúc nào mẹ cũng nhìn Sa như thế. Tiếng súng vẫn roẹt roẹt đùng đùng bên ngoài, tiếng đề- pa của khẩu pháo cuối vườn liên tục làm xương sống của Sa cứ dợn lạnh dợn lạnh như những đợt sóng. Sa nhìn mẹ lần nữa, đôi mắt đã khép, môi mẹ mắm lại, hai tay chống run run đơ đơ. Sa ngạc nhiên thấy hai tay mẹ chống xuống đất từ lúc nào, lưng mẹ gồng lên cong vồng chống đỡ cả tấm ván dày rất nặng lệch nghiêng bên trên, máu từ trán mẹ tràn xuống đỏ nhoẹt một bên má. Người Sa giật bắn, khiếp đảm, môi đánh lập cập, chân tay run lập cập, tâm hồn nhỏ bé của nó muốn vỡ vụn ra. Sa quýnh quíu lay lay khuôn mặt mẹ, nó vẫn nghe lời mẹ không dám nói thành lời mỗi khi có tiếng súng nổ, mỗi khi có trận đánh gần nhà. Đêm yên ắng trở lại. Từ đôi môi thều thào máu me của mẹ, Sa nghe “kêu… cứu..ứu…đi… con…”. Sa loay hoay, run rẩy, lồm cồm lách bò ra khỏi hai cánh tay chống đơ đơ của mẹ, qua mấy cái bao cát vừa bị hất tung, nó tiếp tục bò leo lên đống bàn ghế gãy nát rồi vói miệng lên cửa sổ. Hai ba trái hỏa châu vừa cùng lúc vút rít lên, bầu trời tím đỏ sáng lòa làm nó rụt người, co rúm ngồi thụp xuống. Nó nhắm tít mắt, rúc đầu vào vách ván dưới cửa sổ, nó nghĩ không thấy gì nghĩa là nó được an toàn. Và kì lạ thay khi hai mắt đã nhắm nghiền nó lại nhìn thấy khuôn mặt của mẹ rõ mồn một, máu me nhầy nhụa, đôi môi thều thào, đôi tay chống đơ đơ run run sắp quỵ xuống dưới sức nặng của tấm ván… Bỗng nó bật dậy như chiếc lò so, tiếng nó gào lên xé rạch màn đêm: “Cứu mẹ con! Cứu… mẹ… co…on…!” . Sa cố lấy hết sức gào lên lần nữa: “Cứu! Cứu… mẹ… co…on…!” Tiếng gào của Sa khản dần, sau đó chỉ là những âm thanh khào khào… Quân hai bên đã rút. Có hàng xóm chạy đến, hai ba người nhấc tấm ván ra rồi khiêng mẹ Sa, cơ thể đã rút lại cong vồng, khuôn mặt đầy máu. Sa lúp xúp chạy theo, nước mắt sụt sùi trong đêm hỏa châu. Chốc chốc mấy trái pháo sáng lại vút rít lên trời, tím đỏ rạch roẹt đe dọa.
*
Sau ba mươi bảy năm, ba cái kết cho Đêm hỏa châu (bạn đọc tự lựa chọn một trong ba)
Kết thứ nhất:
“Chưa chắc…chưa chắc… đâu… con!”
Hắn không nhớ nổi từ khi nào mẹ hắn cứ lặp đi lặp lại cái câu ấy như cách nói liệu, nói ê cô của người hay giật mình. Thoạt đầu loáng thoáng không để ý, những lần nghe sau hắn cố nghĩ xem một người im lặng suốt ngày lại thỉnh thoảng phát lên câu ấy là ý muốn gì. Chẳng ăn nhập, chẳng nghĩa lý, có lẽ một kiểu nhại lại mà bà tình cờ nghe được đâu đó. Cái kiểu nói liệu, nói lẫn nghe đến mệt mỏi ấy cứ ngày càng nặng dần, trong cả giấc ngủ mơ bà cũng lảm nhảm: “Chưa chắc…chưa chắc… đâu… con”, những lúc thức lọ mọ trong đêm bà cũng phát mãi cái bài hát lạ lùng ấy, con mèo rượt chuột phóng ào, “chưa chắc…chưa chắc… đâu… con”, vấp chân ngạch cửa, “chưa chắc…chưa chắc… đâu… con”… Hắn cứ phải liên tục ôm đầu, bịt tai trong đêm mà cứ phải bị chia trí hoài. Thế rồi một hôm hắn cũng “chưa chắc… đâu… con”, mẹ hắn giật mình mới phát, còn hắn phát xong câu ấy mới giật mình. Hóa ra bệnh nói lẫn của mẹ hắn tưởng bình thường mà ám ảnh ghê gớm. Đôi lúc hắn nghĩ đến hai tiếng già lẫn mà tự nhiên thấy mệt mỏi, hay là mẹ đã lây cái già lẫn sang hắn, hay chính hắn đã già lẫn thật? Có lúc lại nghĩ kiểu nói của mẹ hắn xuất phát từ gan ruột dồn nén bấy lâu… Hắn cảm thấy rối trí thường xuyên, nhất là những ngày gió núi thốc lên như mấy hôm nay.
Gió núi chiều. Tán xoài sau vườn trườn dài nửa vuông sân vặn quịt qua lại lên xuống ma mị dường như muốn tranh với con người sức mạnh làm đảo điên mọi thứ. Gió núi lồng. Gió núi rũ, giật. Gió núi quặn, xoáy. Gió núi lên cơn muốn tự dỡ bỏ mình, muốn ném càng nhanh càng tốt cái thứ thịt xương khung cốt răng rắc kèn kẹt, lúc như ma ru con lúc như hồn thét, ra khỏi cơ thể, ra khỏi linh hồn… Hắn rùng mình, nhợn lạnh. Hắn không còn đủ can đảm đối diện, đối thoại với những tiếng nói cuồn cuộn tuôn chảy từ trong đầu hắn nữa. Hắn bần thần quay vào nhà, lên giọng: Mẹ thằng Hiếu nhớ mai dậy sớm nấu gì cho bà ăn, bà sang nhà chú. Mùng một. Lại một mùng một. Có gì đó bất yên tận cùng tâm can hắn. Trong căn nhà này, hắn vẫn còn quyền lực, vẫn còn gia trưởng nhưng chỉ qua cái giọng trầm ồ mỗi khi nhắc đến “mùng một” đầu tháng. Mùng một – bà sang nhà chú. Mùng một – bà về. Ai biết rõ hoàn cảnh của mẹ hắn người ấy chắc chắn nắm thóp hắn. Thôi, không nghĩ ngợi nữa! Nắm thóp thì đã sao, mà có sao cũng chẳng làm sao. Hắn đã bị nắm thóp từ lâu.
Hắn ít khi dám dừng lại nhìn kỹ khuôn mặt của mẹ mình, một khuôn mặt đã từ lâu dí sát xuống đất. Sáng nay, trước khi đạp số rồ ga ra khỏi nhà, hắn đã ngoái đầu. Mẹ! Hắn cúi ngược đầu xuống khẽ gọi như một hơi thở, thì thào thay lời chào. Mẹ hắn! Cong vồng lọm khọm và nhỏ thó. Vết sẹo xếp nếp hằn một đường từ đỉnh đầu xuống trán. Nếp nhăn ùa tràn về hai mắt, mắt của người lâu rồi không tiếng nói. Mùng một, mẹ lẳng lặng đến nhà hắn đặt túi xách vào góc chiếc giường ọp ẹp, ra vô như một cái bóng, đúng tháng lại sang nhà đứa con khác. Bao nhiêu năm nay mùng một là ngày xách gói của bà. Mưa gió cũng phải đi. Bão bùng cũng phải đi. Và bao giờ cả nhà cũng được chào bằng cái câu lầm bầm thều thào muôn thuở như âm lên từ mặt đất: Chưa chắc… đâu con! “Đó là sự phân công hợp lý, là lẽ phải, là trách nhiệm con cái”. Nghĩ tới đó hắn lại kinh tởm nhớ đến cái giọng hùng hồn của mình trong cuộc họp gia đình. “Ai cũng là con, cũng trách nhiệm như nhau, mỗi người nuôi một tháng là phải đạo”. Là hắn đang nói với vợ chồng em trai, hắn cố lý giải sự phân công nuôi mẹ… Có lần, mùng một, hắn không cho mẹ hắn đi nữa thì ngay chiều đó vợ chồng hắn đã có cuộc cãi nhau vỡ trời vỡ đất. Chuyện bán thanh long bị hố giá chỉ là cái cớ, hắn hiểu trong những câu nói cạnh khóe của vợ hắn trước khi cô ấy úp nguyên nồi cá kho lên đầu hắn, nguyên nhân sâu xa của cơn nóng giận dễ sợ kia là do… Thôi, không nghĩ ngợi nữa! Hắn vội đạp số rồ ga. Đôi mắt bất động của mẹ hắn vẫn cứ nhập nhòa phía trước và chuỗi âm thanh ki ri ki ri như tiếng kinh nhật tụng vọng đều, vọng đều bên tai hắn.
Kết thứ hai:
Ba mươi bảy năm sau. Một tối tháng tư, thời gian nghỉ lễ, trong căn phòng rộng rãi của ngôi biệt thự vừa xây xong, ánh đèn vàng thân thiện, ấm áp lan tỏa, hắn khuỳnh tay ngã người khoan khoái vào chiếc ghế da mềm đắt tiền. Hắn mỉm cười một mình. Những thành công vang dội gần đây của hắn trên văn đàn nhờ khai thác đề tài người mẹ trong chiến tranh, những giải thưởng danh giá được trao vào tay hắn, báo chí cả nước tốn bao giấy mực vì hắn… những ý nghĩ như vậy lần lượt chạy qua đầu hắn như một bản nhạc vui. “Cuộc đời vẫn đẹp sao…” Hắn khe khẽ hát. Bất chợt hắn muốn sắp xếp lại mấy quyển sách đã làm nên tên tuổi hắn, tất cả các gáy sách phải được quay ra ngoài vùng sáng, văn mình vợ người mà. Hắn vừa mỉm cười một mình vừa bâng quơ phủi cây chổi lông gà qua các gáy sách. Chợt hắn nổ đom đóm mắt, một bức tượng đá hình trái tim nhỏ nhắn trang trí kệ sách vướng cây chổi bổ nhào vào trán hắn. Ngồi gục xuống, ôm đầu, mắt hắn căng to kinh hãi khi nhìn thấy máu. Bức tượng Tình yêu… Tình yêu đã đập vào đầu hắn… Quả báo… Cái điềm xấu này không phải ngẫu nhiên… Như một phản xạ có điều kiện, bao nhiêu dòng chữ nghĩa ngữ ngôn vừa hiện nhanh qua cái đầu sưng vù của một nhà văn chuyên nghiệp là hắn. Hắn quệt tay lên vết thương kiểm tra. Máu vẫn rịn càng lúc càng nhiều, một thứ máu loãng hồng hồng dính rít trịt trên mấy ngón tay. Hắn tức giận đá bức tượng trái tim vào góc nhà. Tiếng ki ri ki ri của con dế cơm dưới kẹt tủ chợt im bặt, nhưng cũng từ lúc ấy chuỗi ki ri ki ri trong đầu hắn bắt đầu ngân lên, con dế cơm này gáy suốt ngày nhưng hắn không để tâm, khi nó im bặt thì hắn lại lưu tâm về sự có mặt của nó. Kể cũng lạ! Đầu óc hắn ong ong đau rát, hắn vừa dùng băng cá nhân băng rịt vết thương vừa đưa tay mở nhạc để xua cái tiếng dế kêu ra khỏi đầu.
…“ù… u.u.u… ù u… ú… u.u.u… Một dòng sông trôi cuốn mãi về trời, bấp bênh phận người… Mẹ ngồi ru con tiếng hát lênh đênh…”
Dù đã mấy lần vặn âm thanh cho nhỏ hơn nhưng Sa vẫn không dám nghe nữa, hắn đứng dậy đi ra ngoài. Trời đêm, gió se lạnh. Hắn đưa tay khép cổ áo, vết thương trên trán đã bớt đau rát, bài hát của Trịnh vẫn bám theo: “ù… u.u.u… ùu… ú… u.u.u… Tuổi còn bơ vơ, thế giới hận thù, chiến tranh ngục tù…” Hai bàn tay hắn đan lại trên đỉnh đầu rồi siết dần siết dần.
Ki ri ki ri… Hắn lại nghe chuỗi âm thanh ấy vang lên trong đầu. Hắn lắc lắc đầu, hít một hơi thật sâu căng tràn lồng ngực, quơ tay chân làm động tác vặn mình cho giãn xương cốt và xua chuỗi âm thanh ám kia ra khỏi đầu. Ki ri ki ri… Chuỗi âm thanh ấy âm âm lớn dần. Ki ri ki ri… Hắn bịt tai sợ hãi, hai bên thái dương căng lên nhức buốt. Hắn tắt hết đèn đóm trong nhà, vào buồng trùm mền kín mít. Vẫn ki ri ki ri. Ki ri ki ri… âm âm vọng vọng… Một cánh cửa của trí nhớ vừa mở ra đâu đó và mây đen ùn ùn kéo tới đen kịt, che phủ, kéo rịt hắn xuống sát đất. Những lúc như vậy, hắn biết linh hồn thứ hai đã thức dậy trong hắn. Đó là cuộc tranh đấu tay đôi thường trực trong nội tâm con người hắn. Giờ đây, linh hồn thứ hai đang đè bẹp hắn xuống, vật vã hắn. Lệnh vỡ! Vang vang. Âm âm. Hắn từ từ trườn ra khỏi mền, trườn xuống sàn nhà. Hắn bắt đầu bò đi, miệng lặp lại chuỗi âm thanh ki ri ki ri đang phát đi phát lại trong đầu. Có hai linh hồn cùng sống trong hắn. Một linh hồn trầm lặng nhưng khát sống, luôn muốn bám víu vào đời sống, luôn muốn thành đạt, luôn muốn chứng minh mình, khẳng định mình với xã hội. Một linh hồn mệt mỏi luôn muốn về với khu vườn, về với cây khế ngọt, về với căn hầm của mẹ hắn, nơi có tiếng dế ki ri ki ri, nơi có tấm lưng tật nguyền co rút cong vồng vì bảo vệ cho hắn trong cơn lửa đạn. Nơi đó, cái chết thảm thương vì nghèo đói bệnh tật và cô đơn, cô độc của mẹ hắn chợt như đám mây đen đổ ập vào tâm trí hắn. Hắn lại bò đi và tiếng gáy ki ri ki ri của hắn nghe thật bi ai, buồn thảm.
Một nhà văn tên tuổi vừa bị… điên! Tin ấy lan nhanh trên mạng Internet, các trang blog còn đính kèm theo nhiều truyện ngắn cảm động viết về mẹ của nhà văn, nhưng lạ là không một lời nói đến lí do điên loạn.
Kết thứ ba:
Với con mắt nhìn hiện đại và nhân văn, nhân bản, bạn đọc hãy tự viết cái kết “Đêm hỏa châu” cho chính mình! Chỉ xin cung cấp thêm mấy chi tiết: Quê tôi là một vùng “xôi đậu”, lúc ấy phía bên kia có câu “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, nên những trận đụng độ giữa hai phe ngay trong làng là chuyện thường tình. Câu chuyện mẹ của Sa gồng lưng đến mức co rút tật nguyền để che chở cho con là câu chuyện thương tâm đặc biệt nhưng rồi cũng nhanh chóng chìm vào trong trăm ngàn đau đớn mất mát khác diễn ra lúc đó. Hiện Sa là một tay đại gia trọc phú có thật ở quê tôi, hắn nổi lên nhờ nghề cò lái bất động sản, rồi trở thành tay buôn bất động sản chuyên nghiệp. Trong kí ức của Sa có còn lưu giữ chút gì không thì không ai dám quả quyết, chỉ biết rằng hắn không biết làm gì cho hết tiền hết của, trong khi mẹ hắn lại lang thang cầu bất cầu bơ. Mẹ của Sa, người đàn bà được dân làng cứu sống trong cái đêm đạn lửa ấy, người đàn bà khi đi cứ dí mặt xuống sát đất ấy, không biết tự lúc nào mang cái tên ngồ ngộ: Bà Còng. Ngày nay, ai đến làng tôi cũng được nghe mấy câu đồng dao mà bọn nhỏ cứ rồng rắn ê a:
Bà Còng bà Cùa
Vác rùa đi xin
Tới cửa con mình
Úp rùa nằm ngủ…
Chân núi Tà Cú, tháng 3-2012
Hồi âm truyện ngắn dự thi:
Một truyện ngắn dữ dội và ám ảnh.
(Truyện “Đêm hoả châu” của Nguyễn Hiệp, Văn nghệ số 17 + 18 ra ngày 28- 4 -2012)
Nói “Dữ dội và ám ảnh” vì tình huống truyện, cái xấu và cái đẹp, cái bi và cái tráng, mọi trạng thái xúc cảm “ái, ố, hỉ, nộ” của nhân vật (và của cả độc giả), rồi thiên nhiên trong truyện… tất cả đã được đẩy lên và mang “kích thước” lớn.
Tên truyện là “Đêm hoả châu” nhưng chỉ một phần ba truyện miêu tả cái đêm chiến tranh ấy, hai phần ba còn lại là kể chuyên 37 năm sau. Tuy nhiên cái kí ức về “Đêm hoả châu” vẫn ám ảnh hiện tại và chi phối số phận của các nhân vật.
Truyện mở đầu bằng một đêm kinh hoàng của chiến tranh. Nhân vật chỉ có hai: mẹ và con (thằng Sa) trong hầm trú ẩn. Người mẹ luôn thay đổi tư thế để che chắn cho con. Hầm sập, mặc dù bị thương bà vẫn vồng lưng lên chống đỡ cả tấm ván dày rất nặng lệch nghiêng bên trên cho đến khi kiệt sức, mặt máu me nhầy nhụa, đôi tay chống đỡ run run, suýt quỵ xuống dưới sức nặng của tấm ván bà vẫn cố gắng sức che chở cho đứa con trai bé bỏng. Bà sẵn sang lấy tính mạng của mình để bảo vệ sự sống cho con. Hình ảnh người mẹ ở đây thật bi tráng: vừa đau thương vừa vạm vỡ cao cả. Bà như một tín đồ sẵn sàng “tử vì đạo”, xả thân để “cứu nạn”. Hình tượng người mẹ ấy làm xúc động sâu xa trái tim, gây nên những “cú sốc” thẩm mĩ cho người đọc.
Truyện thật dữ dội và ám ảnh. Có gì dữ dội hơn khi tác giả miêu tả chiến tranh qua đôi mắt kinh hoàng của trẻ thơ. Thấy mẹ bị thương và trong tình thế hiểm nguy, thằng bé “giật bắn, khiếp đảm, môi đánh lập cập, chân tay run lập cập, tâm hồn nhỏ bé của nó muốn vỡ vụn ra.” Nó kêu cứu “tiếng nó gào lên xé rách màn đêm”. Đứa bé, nạn nhân của chiến tranh đã bị chấn thương tinh thần ghê gớm.
Có gì ám ảnh hơn khi bao nhiêu năm sau, kí ức kinh hoàng về chiến tranh như một cơn ác mộng vẫn trở đi, trở lại với mẹ con Sa. Có hai chi tiết đã được lặp lại nhiều lần như một thư pháp nghệ thuật diễn tả nỗi ám ảnh không nguôi đó. Chi tiết thứ nhất: mẹ Sa, lúc tuổi già đã lẫn mỗi lần giật mình lại lầm bầm thều thào: “Chưa chắc… chưa chắc…đâu…con” (chi tiết này được lặp lại đến 6 lần trong truyện). Rồi đến thằng Sa bị “chia trí” bởi câu nói mê sảng của mẹ, cũng có lần buột miệng “chưa chắc… đâu…con”. Chi tiết thứ hai: tiếng kêu “ki ri, ki ri” của con dế năm xưa trong hầm, tiếng kêu “bi ai, buồn thảm” ấy, 37 năm sau lại như một sự nhắc nhở kinh hoàng, như một tiềm thức vang lên trong đầu Sa (chi tiết được lặp lại tới 13 lần) làm nhân vật sống không bình an.
Sau cái đêm khủng khiếp người mẹ đã mang thương tật suốt đời: “vết sẹo xếp nếp hằn một đường từ đỉnh đầu xuống trán”, “ tấm lưng tật nguyền co rút cong
vồng”, đi đâu khuôn mặt cũng “dí sát xuống mặt đất”.
Nhưng truyện “dữ dội” không chỉ ở những đoạn miêu tả chiến tranh mà cơ bản vì những xung đột tâm lí, vì số phận của nhân vật.
Truyện có ba cái kết ứng với ba thằng Sa ở 37 năm sau.
Người đọc sốc khi “chứng kiến” những thằng Sa báo hiếu mẹ. Một thằng Sa thường dân phân công em: mỗi người nuôi mẹ một tháng. Thế là mẹ hắn “cong vồng, lọm khọm và nhỏ thó”, “bao nhiêu năm nay mồng một là ngày xách gói của bà, mưa gió cũng phải đi, bão bùng cũng phải đi”. Một thằng Sa là nhà văn tên tuổi “hắn thành công vang dội trên văn đàn nhờ khai thác đề tài người mẹ trong chiến tranh”. Nhưng mỉa mai thay hắn đã để mẹ “chết thảm thương vì nghèo đói, bệnh tật và cô đơn, cô độc” trong khu vườn xưa. Một thằng Sa “đại gia trọc phú” nổi lên nhờ nghề cò lái bất động sản chuyên nghiệp “ không biết làm gì cho hết tiền của trong khi mẹ hắn lại lang thang cầu bất cầu bơ”.
Một người mẹ từng vì con như thế giờ đây có số phận thật đáng thương. Những cái “kết” truyện thật “dữ dội” ngoài sức tưởng tượng của người đọc.
Nhưng những thằng Sa ích kỉ, ăn ở bạc, bất hiếu, vong ân bội nghĩa đó đâu được sống thanh thản. Bị lương tâm cắn rứt, chúng luôn trong tâm trạng day dứt, trong mặc cảm tội lỗi. Cái thằng Sa phân công nuôi mẹ ấy luôn luôn thấy “có cái gì bất yên tận tâm can”; hắn “ kinh tởm cái giọng h ùng hồn của mình trong cuộc họp gia đình”; nhìn mẹ m ồng một xách gói ra đi, hắn không dám mở mồm chào mẹ… Còn cái thằng Sa nhà văn khi “cánh cửa của trí nhớ vừa mở ra đâu đó” thì “linh hồn thứ hai đã thức dậy trong hắn”, đưa hắn về với kí ức xưa. Hắn không thể vô tình, vô tâm với th ân phận đáng thương của mẹ. Trong hắn “cái linh hồn thứ hai thức dậy” đã “đè bẹp hắn xuống, vật vã hắn”… Hắn đã phát điên. Đấy cũng là một sự quả báo.
“Đêm hoả châu” đọc thật hấp dẫn. Ngoài cốt truyện, số phận nhân vật thì “cách viết” của tác giả cũng gây ấn tượng trong lòng người đọc. Để viết về một câu chuyện” dữ dội” ấy, Nguyễn Hiệp đã chọn một “giọng kể” và “nhịp điệu truyện” thích hợp. Đó là giọng kể có phần lạnh lùng, hết sức kiềm chế. Tác giả biết giấu cảm xúc của mình dưới lớp ngôn từ được chăm chút giàu sức biểu cảm. Nhịp điệu truyện nhanh, linh hoạt. Truyện không có những đoạn văn miêu tả rườm rà và càng không có chỗ cho những đoạn thừa. Chi tiết trong truyện được chọn lọc kĩ, mang giá trị nghệ thuật cao. Câu văn ngắn gọn, chắc: “Giờ đây, linh hồn thứ hai đang đè bẹp hắn xuống, vật vã hắn. Lệnh vỡ! Vang vang. Âm âm”. Tác giả tỏ ra rất kiệm lời. Và sau hết ba cái kết khác nhau của truyện tạo nên tiếng nói đa âm về thân phận con người và tăng hiệu quả thẩm mỹ cho tác phẩm.
Truyện “Đêm hoả châu” như một hồi chuông báo động tình trạng tha hoá xuống cấp về đạo đức của con người trong xã hội hiện đại và tình trạng cái thiêng, cái đẹp bị chà đạp, ruồng bỏ. Truyện kết thúc nhưng nó lại “mở” về phía người đọc làm họ day dứt không nguôi. Và đó là thành công của tác phẩm.
|
Nguyễn Thị Lan, 90 Mạc Thị Bưởi, thành phố Hải Dương
|
Posted in Khác
Văn học cho thiếu nhi chuyển động chậm
Tham luận của Nguyễn Hiệp:
VĂN HỌC THIẾU NHI CHUYỂN ĐỘNG CHẬM,
NGUYÊN NHÂN TỪ ĐỜI SỐNG NHÀ VĂN
————–
Những người tâm huyết và thật khách quan đều nhìn thấy văn học thiếu nhi của ta đang chuyển động chậm, rất chậm trên một đường ray gò bó, khiên cưỡng, cũ kỹ. Nó lọt thỏm, nhạt nhòa giữa một biển những Harry Potter, Doremon, Conan, ngụ ngôn Aesop, Bộ Năm Trên Đảo Giấu Vàng, … tung tẩy không nặng nề giáo điều, không khuôn sáo đạo đức, những điều không thể mà vẫn hiện ra lung linh kì diệu mê hồn… Tôi nghĩ “cái biển” hấp dẫn lung linh ấy đích thực là văn học thiếu nhi. Trẻ con vốn thế mà, thích thú, hứng thú mới là quan trọng, ai đó sẽ thất bại nếu bảo trẻ con phải như thế này, phải như thế kia.
Đó vẫn chỉ là suy tư, còn làm sao để bắt mạch, để chạm được cái thích ấy là việc không hề đơn giản. Luôn luôn văn học thiếu nhi là thách thức đối với người cầm bút, bởi vậy thấy những nhà văn viết được, viết hay cho thiếu nhi, tôi rất nễ phục, rất ngưỡng mộ, phải có cách phân thân thế nào đó thì mới nuôi dưỡng được tâm hồn trong veo như vậy. Dưỡng chất trần gian vô cùng tận, thấy đó, không đó, hiện ra, biến mất trong tích tắc quay về, trong tích tắc đồng cảm, khai thác, chế biến thành món ăn ngon cho tâm hồn các thượng khách thiên thần này không phải ai cũng trở thành “đầu bếp” tài ba được. Nói vui, tác phẩm văn học thiếu nhi không bán chịu, nhà văn phải nhập cuộc hết mình, phải trả “đủ tiền”, phải o ho… ót họt, lặn ngòi ngoi nước thì may ra mới có chút gì đó ưng ý, phục vụ được lứa tuổi đẹp nhất, thần tiên nhất, trong trẻo nhất đời người này.
Văn học viết cho thiếu nhi ở miền Đông có chuyển động rõ nét hơn nhưng hầu hết cũng chỉ là “nghề tay trái”, viết về thiếu nhi hoặc viết về kí ức thiếu nhi của mình, lờ đi những khác biệt thời đại thì nhiều (tôi muốn nhấn mạnh đến những khác biệt giữa viết cho và viết về). Tôi thành thật xin lỗi những nhà văn đã viết cho các em bằng “tay phải”, bằng trọn vẹn tâm huyết! Nhất là ở miền Đông có nhiều nhà văn viết cho thiếu nhi thực sự tài hoa, đã có nhiều giải thưởng danh giá, có thể nêu ra như nhà thơ Xuân Sách, nhà văn Hoàng Văn Bổn, nhà văn Trần Đức Tiến, nhà văn Khôi Vũ, nhà văn Thu Trân, nhà thơ Trần Hoàng Vy, nhà văn Nguyễn Một, nhà văn Hồ Việt Khuê, nhà văn Trần Thu Hằng… Nhưng nhìn chung vẫn là chuyển động chậm. Xin chúng ta đừng tránh né trước thực trạng này. Văn học thiếu nhi chuyển động chậm, nguyên nhân trước hết và trên hết từ phía nhà văn. Chưa thật sự để tâm. Cảm hứng sáng tác mùa vụ, bị chi phối bởi bàn cân sang hèn cao thấp, thu nhập ít nhiều. Đó là tôi nói từ bản thân mình tôi cũng còn có những lấn cấn như vậy.
Tuy nhiên nếu đặt vấn đề cho công tâm, một nhà văn đầu tư chiều sâu và dài hơi cho tác phẩm văn học thiếu nhi thì sống bằng gì? Chúng ta đòi hỏi, vậy chúng ta có quan tâm đến đời sống của nhà văn không? Nhà văn cũng là người, cũng gia đình con cái, cũng lo lắng, lo toan, lo nghĩ trăm mối bòng bong đời sống, không thể yên tâm sáng tác mà sống bằng hương hoa, bằng lời khen mãi được. Một năm, chỉ đến dịp Quốc tế thiếu nhi 01/06 thì họa chăng có vài trang báo đăng bài, (ngoài mấy tờ Khăn Quàng Đỏ, Nhi Đồng, TNTP… là “sân chơi” lâu nay của các em), một xuất nhuận bút năm bảy chục, một trăm ngàn, chưa đủ tiền cà phê; ngoài ra sách được các nhà xuất bản hoặc liên kết xuất bản in cho là mừng rồi, tên tuổi lắm thì được 10% giá bìa nhân cho không quá 1000 trong lần xuất bản, tái bản thì 8%, chưa kể bị chặn thuế 10% cho những đồng thu nhập ít oi đó, kể cả một nhà văn nhí 10 tuổi như trường hợp Nguyễn Bình lẽ phải Nhà nước phải cho thêm tiền để khuyến khích mà vẫn bị đè ra đóng đủ 10% thuế. Cũng có những giải thưởng, trong nước có, liên kết có nhưng chỉ là những cơ hội hiếm hoi với trăm ngàn khó nhọc. Cả đất nước này chỉ có nhà văn Nguyễn Nhật Ánh là sống được bằng nghề viết cho thiếu nhi mà đâu phải ai cũng là một Nguyễn Nhật Ánh ăn khách “sinh phùng thời” như vậy được.
Thử khảo sát trường hợp nhà văn Thu Trân, sách thiếu nhi ra đều đều từng năm, có lúc còn in hai quyển một lúc: Đường Bong Bóng Bay (truyện dài thiếu nhi), NXB Trẻ 1993, Trò Chơi Của Biển (truyện vừa thiếu nhi), NXB Kim Đồng 1994, Hoa Trên Đường Phố (tập truyện ngắn thiếu nhi), NXB Kim Đồng 1997, Những Dòng Sông Búp Bê (tập truyện ngắn thiếu nhi), NXB Trẻ 1999, Nhà Có Cửa Sổ Tròn (truyện vừa thiếu nhi), NXB Kim Đồng 2001, Tóc Mây Vỉa Hè (truyện dài tuổi mới lớn), NXB Kim Đồng 2002, Ông Thầy Cũ Kỹ (tập truyện ngắn thiếu nhi), NXB Trẻ 2002, Dường Như Ta Không Còn Bé Nữa (truyện dài tuổi mới lớn), NXB Kim Đồng 2003, Hộc Bàn Không Còn Muối ớt (truyện dài tuổi mới lớn), NXB Kim Đồng 2009… Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993 cho Đường Bong Bóng Bay, giải thưởng Hội Nhà văn Đan Mạch- Hội Nhà văn Hà Nội- NXB Kim Đồng 2008 cho Đổi Răng Với Chuột, giải thưởng Văn học thiếu nhi Vì tương lai đất nước của Hội Nhà văn TP.HCM – NXB Trẻ 2002 cho Ông Thầy Cũ Kỹ. Nhưng khi tôi hỏi thu nhập của một lượng đầu sách thiếu nhi nhiều như vậy có cải thiện được đời sống của mấy mẹ con không? Thu Trân cười trả lời: Mấy đồng mấy cọc đâu anh ơi, Thu Trân nuôi hai đứa con bằng nghề báo. Thật là ngậm ngùi! Ai là người viết cũng đều hiểu Thu Trân nói vậy là chân thành, là thật và cũng hiểu thu nhập của người thức đêm thức hôm, “mang nặng đẻ đau” ra hàng chục đầu sách thiếu nhi kia không bằng tiền huê hồng của anh chàng ngồi mát nhởn nhơ bán số sách ấy.
Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là chúng ta đang xử sự bất công với nhà văn, chúng ta bỏ mặc họ tự bơi trong niềm đam mê và trách nhiệm của mình. Nghĩa là chúng ta chỉ biết đòi hỏi một chiều mà chưa hề thấu hiểu, chưa hề quan tâm. Nghĩa là chúng ta chỉ nhìn thấy chuyển động chậm mà chưa hề biết nguyên nhân sâu xa và cũng chưa hề muốn tìm hiểu nguyên nhân sâu xa.
Tôi hi vọng một cách mơ hồ rằng: Sau cuộc hội thảo này, Hội Nhà Văn Việt Nam, các cấp hữu trách, các nhà xuất bản, các nhà sách sẽ có những chuyển động nhanh hơn, hiệu quả hơn trong việc đầu tư, hỗ trợ cho đời sống của những nhà văn viết cho thiếu nhi. Có như vậy trong tương lai gần, chúng ta mới dám mong sẽ có những “Hoàng Tử Bé” xuất xứ từ Việt Nam, những Harry Potter xuất xứ từ Việt Nam.
Posted in Khác


